|
Duyên khởi
TSNC Phật học Thừa Thiên - Huế
Trong đêm dài sinh tử của chuỗi luân hồi vô tận, chúng
sinh bị đè nặng bởi ái hữu tham dục, bị bủa vây bởi quá
nhiều nghiệp chướng khiến đôi lúc tưởng chừng như im lìm
bất động. Nhưng không, dưới bề mặt phẳng lặng của biển
nước bao la, những đợt sống ngầm vẫn liên tục chuyển
dịch; dưới lòng đất, trong cái vỏ trơ cứng chai lì, khối
lượng nham thạch khổng lồ vẫn nối tiếp sôi sục trào
dâng... Cũng vậy, con người, một tổ hợp năm uẩn, không
bao giờ bất động, đứng yên. Đó là quy luật.
Vốn bị giới
hạn ngặt nghèo trong thân xác bé bỏng, mong manh, thường
xuyên chạm mặt với những thực trạng chua xót đau buồn
của nghiệp quả, con người đã phải nỗ lực không ngừng, cố
gắng vươn lên, tìm kiếm, xác định cho mình một vị trí,
hay nói cách khác, là khẳng định sự tồn tại của mình ở
giữa trời đất non nước bao la; con người đã phải vất vả
ngược xuôi trong biểu đồ ý thức để mong tìm ra phương
thế, đã tất bật lui tới trong duyên sinh để củng cố niềm
tin ...
Bỗng nhiên, những giòng chữ của một trang sách hiện lên,
«...văn phật đạo trường viễn nhi bất sanh thối quyện»,
như một lời nhắc nhở, một sự khích lệ lớn lao cho bất cứ
ai sống giữa cuộc đời này, đi trên con đường đó. Ở đây,
Phật đạo không là gì khác, đó chính là con đường, con
đường của trí tuệ và tình yêu. Với trí tuệ, con người
biết và xác định được vị trí, thân phận của mình giữa
dòng chảy của vô thường biến hoại; biết vạn sự, vạn vật
chỉ tồn tại trong mối tương quan tương duyên, con người
chỉ tồn tại trong cuộc sống cộng đồng, không thấy có
cuộc sống của cá nhân ngoài cộng đồng, cũng không thể
thấy còn tồn tại một cộng đồng nhân loại nếu cắt đi
những phần tử con người riêng biệt. Với tình yêu, con
người thấy hạnh phúc trong cuộc sống chan hòa là hạnh
phúc đích thật, thấy ấm áp đôi chút trong sự băng giá cô
đơn sâu thẳm của kiếp người và trên hết, thấy rằng, con
người chỉ là nạn nhân, những nạn nhân như một nhà thơ
nào đó đã từng nói “thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió,
cũng chỉ trong vòng bể thảm thôi”...
Nơi mảnh đất Miền Trung bé nhỏ với mùa Hạ nắng chang,
khô cằn sỏi đá, mùa Đông rét buốt, lầy lội nước bùn với
những đám mây đen nghịt sà thấp như sẵn sàng giáng xuống
những thảm hoạ, tai ương nguy hiểm nhất, người dân Thừa
Thiên & Huế, một trong những cụm dân cư, đã thấm thía
đến tận đáy lòng về những thịnh nộ của thiên nhiên, về
những cuồng si của nhân thế.
Và bây giờ, như bất chợt bùng lên ý tưởng, gom góp đôi
điều gì đó của người xưa, của Phật Tổ, với những giòng
chữ trên trang giấy, qua những khảo cứu, biên dịch hay
thêm vào vài ba sáng tác thơ văn... được xem như những
sợi chỉ nối kết tâm tình của những người đồng điệu nhằm
sưởi ấm đôi chút hay xua đi khí lạnh mùa Đông. Và đấy
chính là lý do sự có mặt của “TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC” mà quý vị có ở trong tay.
Mạnh Đông, Tân Tỵ.
Huế, Ngày 19 tháng 11 năm 2001
Tỳ kheo Thích Thiện Hạnh.
(trích tsnc.1)
|
TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC
▪ Số 01. Tháng 12-2001
▪ Số 02. Xuân Nhâm Ngọ PL.2546
▪ Số 03. Phật đản PL.2546
▪ Số 04. Vu lan PL.2546
▪ Số 05. Xuân Quý mùi 2003
▪ Số 06. Phật đản PL.2547 (Số đặc biệt)
▪ Số 07. Vu lan PL.2547
▪ Số 08. Xuân Giáp thân PL.2547
▪ Số 09. Phật đản PL.2548
▪ Số 10. Vu lan PL.2548
▪ Số 11. PL.2548
▪ Số 12. Xuân Ất dậu
▪ Số 13. Phật đản pl.2549
▪ Số 14. PL.2549
▪ Số 15. PL. 2549
▪ Số 16. Xuân Bính Tuất
▪ Số 17. Phật đản PL.2550
▪ Số 18. Vu lan PL.2550
▪ Số 19. PL.2550
▪ Số
20.
Xuân Đinh Hợi PL.2550
TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC
PHÁP LUÂN
▪ Số
01.
Số đặc biệt KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL. 2551
▪ Số
02.
VU LAN - PL. 2551
▪ Số
03.
PL. 2551
▪ Số
04.
XUÂN - PL. 2551
▪ Số
05. PHẬT ĐẢN - PL. 2552 |