VÔ VI VÀ TIẾN TRÌNH GIẢI THOÁT
by E. Conze
1. Niết bàn và hư không
Cái Tuyệt đối thể hiện qua hình
thức phi cá thể là ‘Vô vi’ hay ‘Niết bàn’, và trong hình thức một cá
nhân cụ thể, là đức ‘Phật’ hay ‘Như lai’. Các kinh đã nói về tính
siêu nghiệm của Niết bàn bằng ngôn ngữ được cảm nhận sâu sắc của thi
ca. Khối lượng văn tịch đồ sộ A-tỳ-đàm nhắm phân tích về hữu vi. Các
phát biểu về Vô vi khá hiếm thấy và chủ yếu nằm trong ba đề tài
chính. Thứ nhất là các chủ đề đã được thảo luận chi tiết trong phần
I, nơi Niết bàn được định nghĩa trong tương quan với ba đặc tính của
mọi pháp hữu vi. Chủ đề thứ hai và thứ ba đề cập sự liên hệ của Niết
bàn với nhân quả và hiện hữu, mà ở đây cần nói thêm vài điều. Chỉ có
ở Đại thừa, sự quan tâm rõ ràng chuyển hướng về Vô vi là cái hầu như
đã trở thành đề tài bàn luận duy nhất, tính siêu nghiệm của nó được
bảo vệ để tránh mọi hiểu lầm không những bởi sự phủ định chất chồng
lên phủ định, mà còn bởi các nỗ lực không ngừng để minh xác ý nghĩa
của những quan điểm phủ định được sử dụng.
Chính vì định nghĩa này mà Vô
vi không những hoàn toàn siêu việt tâm, nó còn vượt ngoài nghiệp và
nhân quả. Trong Pháp tụ luận (Dhammasangani)
thỉnh thoảng có nói đến một số thuộc tính của ‘yếu tố vô vi’. Về
tâm, ‘nó không sinh ra từ tâm’, không phải là cái khởi hiện cùng với
tâm, cũng không tiếp nối theo tâm. Về nghiệp, nó là vô hạn, nghĩa là
không tạo ra nghiệp dù thiện hay ác; không phải là nghiệp báo cũng
không thể là dẫn nghiệp. Về nhân quả nó không phải là một nhân,
không có nhân câu hữu, không tương ưng với nhân. Trong ‘Milinda
vấn đạo’
cốt lõi của vấn đề này đã được đặt ra một cách rõ ràng: Niết bàn
không phải là kết quả của một nguyên nhân (a-hetu-jam). Không
có nhân nào tạo ra Niết bàn, mà chỉ có Đạo tu tập để chứng đắc nó.
Niết bàn tự bản chất là không sinh khởi (anuppādaniya) vì nó
‘tuyệt đối không do bất cứ gì tạo ra’. Ta không thể nói nó đã được
tạo ra hay đã không tạo ra, hay có thể được tạo ra, hay nó thuộc về
quá khứ, vị lai hay hiện tại.
Vấn đề đến đây thì tạm ổn.
Nhưng một hệ thống học thuật, theo đà phát triển của nó, luôn hướng
đến tính chính xác ngày càng cao hơn bằng các phân biệt thái quá
ngày càng tinh vi hơn. Trong chiều hướng đó mà các học giả Tây
phương ở thế kỷ mười sáu, so với sự đơn giản tương đối của St.
Thomas, đã đạt đến mức tinh vi về khái niệm gần như không thể chấp
nhận. Hậu quả là hệ thống của họ đã trở thành nặng nề, chỉ hấp dẫn
được hạng tầm thường hay e ngại, và bị gạt qua một cách thô bạo bởi
những tính cách mạnh mẽ hơn như Martin Luther và Francis Bacon.
Trong A-tỳ-đàm cũng tương tự, khát vọng đáng ngưỡng mộ đi tìm sự
chính xác cao hơn trải qua hàng thế kỷ đã dẫn đến tình trạng gần như
hoàn toàn bế tắc. Vì các cấu trúc tâm thức quân bình một cách tinh
vi của họ ngày càng mang lại ít hiểu biết sâu sắc hơn, các nhà Đại
thừa đã mất kiên nhẫn với họ và đã phản đối bằng các khẳng định
nghịch lý một cách mãnh liệt mà, trong khi nhấn mạnh tính không thể
tỷ giảo giữa Niết bàn và thế gian, đã dẹp bỏ mọi cố gắng giải thích
làm thế nào mà một người lại có thể đạt đến Niết bàn. Như một viên
gạch, dù được đánh bóng đến đâu, cũng không thể thành gương; thì
cũng vậy, không có bất cứ sự tinh cần, tu giới, tu định, tu huệ nào
có thể từng đưa đến chứng đắc Niết bàn. Thế nhưng, Niết bàn đã được
chứng đắc, đang được chứng đắc hay sẽ được chứng đắc. Theo chiều
hướng đó mà sự chối bỏ của Đại thừa đối với các nỗ lực hoàn thiện hệ
thống nhất quán của các nhà A-tỳ-đàm đã khích lệ phương thức trái
ngược tuyên bố về chân lý bằng những phát biểu tự mâu thuẫn một cách
táo bạo.
Trong Abhidharmakośa,
rõ ràng ta thấy A-tỳ-đàm đã cố gắng định nghĩa các sự kiện thần
thông bằng các hạng ngữ toàn duy lý, cố gắng ấy tất yếu tự nó sẽ
thất bại và dẫn đến các nan đề không thể vuợt qua. Mô tả chi li các
hạng ngữ này là việc làm tẻ nhạt, và tôi thấy chỉ cần đưa ra đây đại
ý điều Vasubandhu đã nói: Vô vi không có nhân hay quả mà nó vừa là
nhân
vừa là quả.
Nó không có quả vì nó nằm ngoài ba thời. Không có nhân nào sinh ra
nó, và vì là vô tác, nó không thể sinh ra tác dụng. Vô vi không thể
có nhân vì cái vĩnh viễn diệt thì không bao giờ tái sinh sau khi đã
diệt.
Ta có thể phản bác rằng Niết bàn là không thường hằng, vì cần phải
có một yếu tố tiền hành là quyết trạch huệ (pratisamkhyā, tư
trạch), nếu không thì không thể có nó. Tri kiến này đạt đến tột điểm
trong ‘vô sinh trí’. Sự ‘bất sinh’ này tự hữu. Ở đâu không có vô
sinh trí, các pháp có khởi sinh; ở đâu có vô sinh trí, các pháp
tuyệt đối không sinh khởi. Tính hiệu quả của tri kiến này đối với sự
bất sinh nằm ở hai điểm: 1) trước khi trí này xuất hiện, không có gì
chướng ngại sự sinh khởi của các pháp hữu vi; 2) khi trí này xuất
hiện, nó ngăn các pháp hữu vi không cho hiện khởi.’
Đó là nói vì sao Vô vi không có
nhân hay quả. Hệ luận tất nhiên, tức việc nó vừa là nhân vừa là quả,
là nó trở thành đề tài nhiều tranh cãi. Một số phản đối cho rằng,
nếu Vô vi ‘là’ quả thì nó phải ‘có’ nhân, hay nếu nó ‘là’ nhân thì
tất phải ‘có’ quả. Dẫu vậy Hữu bộ vẫn giữ quan niệm rằng Vô vi là
hiệu quả của Thánh đạo, vì bằng năng lực của Thánh đạo mà sự ‘sở
đắc’ việc đoạn lìa (ly hệ) các pháp hữu vi được thành tựu. Tất
nhiên, Thánh đạo không ‘làm nhân’ cho sự đoạn lìa (ly hệ), tuy thế
đoạn lìa lại là ‘quả’ (ly hệ quả) của Thánh đạo. Vì Thánh đạo đưa
đến ‘sở đắc’ sự đoạn lìa. Hơn nữa Vô vi là ‘nhân’ theo hai cách, vì
1) nó thuộc về các nhân sinh khởi (sinh nhân) vốn không cản ngại sự
sinh khởi các pháp khác, 2) nó là duyên vì là đối tượng của quán sát
trí. Kinh bộ phản bác chủ trương nhân quả bị giới hạn chỉ ở các pháp
hữu vi và vô thường, và Hữu bộ đồng quan niệm với họ rằng Niết bàn
không phải là nhân theo nghĩa dẫn sinh ra một cái gì đó. Sự tranh
luận trên thực tế suy thoái dần thành triết lý kinh viện, và đánh
mất tầm nhìn về các thực tại tâm linh mà nó cho là đang bàn cãi.
Tiếp theo cần nói thêm về sự
liên hệ giữa Niết bàn với các phạm trù ‘hữu’ và ‘phi hữu’. Vì bản
chất yếu đuối của con người, chúng ta không quá ngạc nhiên khi các
Phật giáo đồ sau này đã tranh cãi dông dài về vấn đề vốn không thiết
thực là Niết bàn ‘hiện hữu’ hay ‘không hiện hữu’. Ý kiến khác biệt
giữa một bên là Sarvāstivādas, Theravādas và Mahīśāsakas, với bên
kia là Sautrāntikas, đã gây ra những tranh luận kéo dài về quan điểm
Niết bàn là một sự hữu (dravya) hay phi hữu (abhāva).
Với sự giản dị quen thuộc, kinh Milinda vấn đạo (Milindapañha)
nói: ‘Niết bàn hiện hữu; nó có thể nhận thức được bằng ý; với tâm ý
thanh tịnh, tịch tĩnh, thù diệu, chánh trực, không bị che lấp, phi
vật chất (nirāmisa) vị Thánh đệ tử đã hành chánh đạo thì thực
sự nhìn thấy Niết bàn.’ Ngược lại, Sautrāntukas khẳng định Niết bàn
không phải là một vật thể riêng biệt, mà đơn giản là sự vắng mặt của
vật thể. Cũng như hư không không là gì khác ngoài nơi không có vật
thể khả xúc, Niết bàn chỉ là sự diệt tận tùy miên, không còn khả
năng tái sinh.
Nó đơn giản là sự không hiện hữu của năm uẩn, và quy gán một sự hữu
riêng cho cái phi hữu này rõ ràng là phi lý.
Ta không thể nhận thức được Vô vi bằng dấu hiệu cảm quan trực tiếp (pratyaksha,
hiện lượng), cũng không thể do suy luận một cách đoan chắc (anumāna,
tỷ lượng). Do đó nó không có tướng trạng nào để có thể nhận thức
được, và không hiện hữu như một thực thể khả tri riêng biệt.
Ta có thể phản bác rằng, Kinh nói có vị tỳ kheo ‘đã chứng đắc Niết
bàn ngay trong cuộc sống này’; nếu Niết bàn đơn thuần là không gì
cả, sao có thể nói là chứng đắc? Sautrāntika giải đáp, qua sự phát
triển của Thánh đạo, sau khi đạt được một đối trị phần, hành giả đã
có được sở y vốn trái nghịch với các phiền não và sự tái sinh cho
một cuộc sống mới.
Cuối cùng, Kinh bộ viện đến khế Kinh trong đoạn nói về vị Thánh đã
hoàn toàn giải thoát, rằng ‘giống như sự diệt tắt (nirvāṇam)
của một ngọn lửa, sự giải thoát của tâm (cetasaḥ) cũng như
thế’, và hỏi làm sao ta có thể xem sự tắt ngúm (aty-aya) của
ngọn lửa như một việc trong, hay bởi, chính nó.
Đìều phức tạp hơn, như thường
lệ, vẫn là lý thuyết của Hữu bộ vốn dựa nhiều vào cả hai thuyết ‘đa
nguyên thực tại luận (nhất thiết hữu)’ và thuyết về ‘đắc’ của họ. Họ
phân biệt hai loại tịch diệt: thứ nhất là do lãnh hội, bằng trí tuệ,
bốn Thánh đế (pratisamkhyā: trạch diệt), thứ hai diễn ra
không qua nỗ lực có dự tính của trí năng (phi trạch diệt), mà kết
quả từ sự khiếm khuyết của những ảnh hưởng cần hội đủ (do khuyết
duyên). Loại đầu là Niết bàn
được định nghĩa là một pháp dẫn đến ‘đắc’ đối sự ‘đoạn lìa’ (visamyoga:
ly hệ) khỏi các pháp nhiễm ô, sự đoạn lìa này tự nó thường hằng
và không do các nhân sinh ra. Loại tịch diệt (nirodha) thứ
hai là pháp làm cho, với người ‘đắc’ nó, tuyệt đối không còn sự sinh
ra pháp này hay pháp khác, và nó ngăn chặn sự sinh khởi các pháp vị
lai, không bằng trí tuệ, mà vì sự bổ sung các duyên cần thiết đã bị
làm cho bất toàn và khiếm khuyết. Lấy ví dụ, khi một nhãn căn và ý
căn bị thu hút bởi một cảnh nào đó. Tất cả các đối tượng khác về
nhãn, nhĩ v.v... như vậy từ hiện tại sẽ đi vào quá khứ. Kết quả là,
các hành vi ý thức có thể có về các âm thanh, cảnh vật này như là
đối tượng của chúng không thể phát sinh, vì một thức qua giác quan
không thể nắm bắt được đối tượng của nó khi đối tượng này đã trôi
qua. Bởi các nhân dẫn khởi của chúng không đầy đủ, nên có một cản
ngại tuyệt đối cho sự sinh khởi các hành vi ý thức này. Loại ‘tịch
diệt’ thứ hai do vậy được giải thích như sự ‘đắc’ đối với việc dừng
chỉ các pháp vốn không bao giờ có thể, dưới mọi hoàn cảnh, phát sinh
trong tương lai, vì pháp ‘tịch diệt’ đã ngăn chặn điều đó.
Sự bất đồng giữa Kinh bộ và Hữu
bộ do hai phái tuyên bố tuy vậy lại ít hơn nó đuợc hình thành trong
một số giáo thư Tây phương. Ta nên lưu ý, trong bối cảnh này thì từ
‘hiện hữu’ có tác dụng là ‘không hiện hữu’, và cả trong suốt các
cuộc tranh luận các nhà Phật học đã không bị vướng mắc vào các phạm
trù lý luận đến mức bỏ mất quan điểm về giáo pháp nguyên thủy theo
đó đường lối của đức Phật là trung đạo giữa ‘hiện hữu’ và ‘không
hiện hữu’.
Như trong Satyasiddhiśāstra, Kinh bộ nói: ‘Như vậy là không
có Niết bàn chăng? Không phải vậy. Vì nếu không có Niết bàn thì sinh
- tử sẽ bất tận, và không thể có giải thoát. Một cái bình vỡ hay một
cái cây đổ là những hiện thực, nhưng không phải là những thực thể
riêng biệt thật sự.’
Dẫu sao, các tranh luận này không thể hiện đỉnh cao của các nhà lý
thuyết Phật giáo. Khi đức Phật giác ngộ, điều đó được ví như ‘một
ngọn lửa đã cháy hết chất đốt, nó tắt ngấm’.
Ích lợi gì việc tranh cãi xem cái ngọn lửa ‘đã tắt’ này, sau khi đã
cháy hết chính nó, là hiện hữu hay không hiện hữu?
Trong vấn đề Niết bàn này, sự
xung đột thật ra là giữa chủ trương duy lý và chủ trương thần bí.
Quan điểm của Kinh bộ, trong chừng mực chúng ta có thể phán đoán, là
cực duy lý và gần như phi tôn giáo. Nó khó thể chia xẻ với những
người mà đối với họ Niết bàn là trung tâm các tình cảm tín ngưỡng
tha thiết chứ không phải chỉ là một khái niệm triết học, và họ cảm
thấy những tuyên bố phủ định thẳng thừng không thể nhận định đúng
chân giá trị siêu việt của nó. Hữu bộ đã phản bác,
nếu cho là không phải, vậy thì làm sao Niết bàn có thể gọi là ‘pháp
tối thắng (agra) trong hết thảy pháp hữu vi lẫn vô vi’? Trong
ý nghĩa nào mà nó có thể được gọi là tối thắng, nếu không phải là
đáng tán dương nhất, nổi bật nhất trong tất cả những pháp đồng phi
hữu khác? Một số người trong Đại chúng bộ (Mahāsanghika) còn
đi xa hơn, đã tự hỏi liệu thực tại vi diệu của Niết bàn có cùng loại
hiện hữu như các pháp thông thường, ngắn ngũi và bị ô nhiễm khác
trong thế giới hữu vi? Cho rằng thực tại của vạn hữu là một phẩm
chất tăng trưởng theo giá trị của nó, họ kết luận chỉ các pháp siêu
việt thế gian mới thật sự hiện hữu, các pháp thế tục thì không. Đó
là lập trường của thuyết Xuất thế bộ (Lokattaravāda), đã mở
rộng các khía cạnh này của lời dạy của đức Phật về cái Tuyệt đối mà
Thượng toạ bộ (Sthaviras) trong mưu tìm tính vững chắc về mặt
lôgic đã bỏ qua.
Niết bàn và hư không (ākāśa)
thường được coi là rất gần nhau. Có sáu tông liệt ākāśa thuộc
về các pháp vô vi,
ba tông không.
Phạm vi ngữ nghĩa của từ này khá bao quát, và có phần khác với những
gì chúng ta nghĩ. Ākāśa có nghĩa: 1) giới vực, và 2) không
gian vô hạn. Nghĩa đầu là, a) khoảng trống giữa các vật, b) đồng
nghĩa với các từ ‘trời’, ‘bầu trời’ hay ‘khoảng cao trên không’.
Ākāśa vô hạn hoặc có nghĩa: a) không gian vô cùng tận, hoặc b)
cái tương tợ từ ‘ether’ (thinh không) của chúng ta.
(1a.) Abhidharmakośa
định nghĩa không gian cục bộ (không giới) như là một khoảng
trống hay lỗ hổng nơi không có vật chất nhưng, giống như lỗ miệng
hay độ mở của cánh cửa, nó gần chúng và có thể nhận thấy được.
Theravāda đồng tình qua cách miêu tả nó như là khoảng trống, kẽ hở,
chân không, lỗ hổng, khe mở v.v... diễn ra giữa những cái thấy được
v.v., như giữa những cánh cửa, cửa sổ, miệng hay lỗ mũi. Trong đó
không có gì được nhìn thấy hay cảm nhận, nhưng chúng phân định hình
sắc, ranh giới cho chúng, khuôn khổ quanh chúng và làm chúng hiển
hiện, là cơ sở cho các ý niệm như ‘phía dưới/ phía trên’, ‘bên này/
bên kia’, v.v... Không gian cục bộ chỉ không có vật chất, nó hữu
hạn, hữu hình và thuộc hữu vi. (1b.) Nơi chúng ta gọi là ‘trên không
trung’ hay ‘trên trời’, trong kinh văn Phật giáo gọi là ‘trên hư
không’ (hay thinh không, space), như trong đoạn trích dẫn sau: ‘Vị
thánh di chuyển trong Cảnh giới Niết bàn (nibbānadhātu) như
cánh chim bay ngang thinh không’.
Cách diễn tả thường thấy này, dù mang tính ẩn dụ, càng củng cố
khuynh hướng xem ‘hư không’ và ‘Niết bàn’ là những khái niệm có liên
hệ mật thiết.
(2a.) ‘Hư không là cái không
gây cản ngại.’
Bản chất cốt lõi của nó là vô ngại, không cản trở hay không đối
kháng. Hư không không thể cản trở vật chất, mà cũng không thể bị vật
chất cản trở hay bị chuyển dịch. Vibhāsa
phân biệt một cách rõ ràng hư không vô hạn với hư không cục bộ khi
diễn tả nó là (2a) phi vật chất, vô hình, không đối kháng và vô vi,
trong khi (1a) là một phần của sắc pháp. Là một giới, ākāśa
là vô hạn, cùng khắp và thường hằng. Đối với Hữu bộ, nó là một thực
thể (vastu, sự, vật, căn bản), đối với Kinh bộ
nó là cái không thuần túy, hoàn toàn không có vật thể khả xúc
hay đối kháng (sa-pratigha-dravya). (2b.) Nhưng đồng thời, và
không một ý thức mâu thuẫn nào, các Phật giáo đồ lại xem ākāśa
là cái có tính chất hữu hình và xác thực, một nguyên liệu vi tế,
một lưu chất siêu trần
vốn thường hằng và cùng khắp. Cái thinh không này tự bản chất không
y vào bất cứ gì (apratishthitam anālambanam), nhưng là sở y
cho tất cả các giới kia. Giới đầu tiên là không khí (phong giới)
y cứ trên nó, rồi đến nước và đất y trên không khí ở dưới chúng.
Cuối cùng, các truyền thống cổ xưa Ấn độ đã khiến các Phật giáo đồ
nghĩ rằng thinh không này tự nó tỏa sáng, và cho rằng ākāśa
có gốc từ động từ căn ‘kāś’, có nghĩa ‘chiếu sáng’. Āryadeva
(Thánh Thiên)
nói, sự vắng bặt vật chất được gọi là ā-kāś-a, vì vạn vật
‘rực sáng’ ngay trong chúng, và trong ý nghĩa này mà Sāramati
có thể nói Phật tánh sáng ngời như mặt trời hay hư không.
Đồng nhất với ākāśa là
một trong những con đường có thể dẫn đến giải thoát. Chứng đắc vô
sắc đầu tiên phát sinh từ sự chiêm nghiệm về hư không trống không
(1a) cho đến hư không vô hạn (2).
Theo công thức khế kinh, ākāśa nằm ngoài ba thứ: a) hình
tướng, b) hữu đối (patigha) và c) sự đa dạng. Như vậy nó
không có (a) những bất lợi gây phiền não cho những người – như là
kết quả của những tập khí nghiệp cảm lâu đời – đã thọ nhận một thân
cụ thể;
(b) sự hữu đối bao gồm trong các tưởng;
và (c) ‘một cảnh giới (gocara) đa dạng trong đó các đối tượng
nhãn căn v.v., có những tự tánh khác nhau’.
Mặt khác, hư không là không cùng tận (an-anta), vì không thể
nhận thức được sự phát sinh và biến diệt của nó,
và đối với những người đã nhàm chán sắc tướng và các thứ liên quan,
nó hẳn là điều có sức thu hút nhất.
Văn tịch Thượng tọa bộ đôi khi
có so sánh
các thuộc tính của Niết bàn và hư không. Cả hai đều thực hữu, mặc dù
hình thức, vị trí, thời gian và phạm vi giới hạn của chúng không thể
xác định. Cả hai đều vô ngại, vô y cứ và vô hạn, không có khởi
nguyên, sinh - tử, khởi - diệt. Trong thiền quán, hư không có thể
được chiêm nghiệm như một cái gì tương đồng với tánh không là thực
tại tối hậu. Một dung lượng vô biên
mà không là gì cả. Không lệ thuộc các duyên hay các giới hạn, vượt
ngoài mọi cản trở và chướng ngại, không thể bị cản ngại hay cản
ngại. Trong nó, không hiện diện bất cứ cái gì xúc đối, đối kháng,
ngọai nhập, ly gián, hay lệch hướng. Nó ở cùng khắp, và chỗ nào cũng
như nhau. Trong nó không có cái gì thiếu, không có cái sở thuộc.
Trong sự tĩnh lặng hòan toàn, tự bản chất nó luôn nằm ngoài thời
gian, biến dịch và hành động. Không thể lấy cái gì để xác nhận nó,
không có gì gắn vào nó như là những thuộc tính.
Một tương đồng thú vị ở châu Âu
do Henry Moore,
người chịu ảnh hưởng của nền văn chương thần học Do thái vốn mô tả
Thượng đế như là ‘không gian của thế giới’,
đã đồng nhất hư không với sự có mặt cùng khắp của Thượng đế. Ông nói
về nó như là ‘một sự trình bày khá lộn xộn và mơ hồ về thể tính thần
linh hay sự hiện diện của thánh thể’,
một bản thể thánh linh vốn là ‘duy nhất, đơn giản, bất động, vĩnh
hằng, toàn hảo, độc lập, tự hữu, tự tồn, vô nhiễm, tất yếu, bao la,
vô thuỷ vô chung, vô hạn, không thể lãnh hội, châu biến, vô hình
thể, dung nhập và dung chứa hết thảy vạn hữu, cái tồn tại chủ yếu,
cái tồn tại thực tế, thực tại nguyên thuần.’
Đại thừa sau đó đồng nhất vạn
hữu với Niết bàn, như vậy các đặc tính của chúng cũng được cho là
tương đuơng với các đặc tính của ‘hư không’ (ākāśa-sama).
Tuy nhiên chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng, mọi phát biểu của Phật
giáo về ākāśa sẽ thành vô nghĩa và thiếu thuyết phục nếu được
hiểu như ‘không gian toán học’ mà ta thường quen thuộc. Chúng nói về
thứ ‘không gian vũ trụ’ của các nhà thấu thị ngày xưa, và thật khó
thiết lập được mối liên lạc giữa các ý niệm ‘duy lý’ và ‘thần bí’ về
‘hư không’.
2. Ba loại người giác ngộ
Tiếp theo, chúng ta phải giải
quyết vấn đề định nghĩa cái Tuyệt đối trong hình thức ‘cá ngã’. Các
‘Thánh nhân’ (ārya) là những người đã đạt đến ‘Thánh đạo’,
tức những người mà tư cách các ngài phần lớn đã được xác định bởi sự
thúc giục mạnh mẽ hướng về Vô vi (asaṃkrta-prabhāvita, sở đầu
vô vi).
Kết thúc giai đoạn tầm cầu đạo quả, khi đã hoàn thành việc tu tập,
các vị ‘Thánh’ trở thành những bậc ‘vô học’. Các ngài hòa nhập vào
cái Tuyệt đối và mất những tính cách cá biệt ngã. Tuy nhiên, và điều
này gần như không thể lý giải, các ngài không phải hết thảy đều như
nhau, mà vẫn mang một số đặc tính riêng biệt. Thượng toạ bộ có
truyền thống về ba loại người được xem như bậc ‘vô học’, hay ‘giác
ngộ’, hay ‘chứng đắc’ Niết bàn, là các vị A-la-hán (Arhat),
Độc giác (Pratyekabuddha) và Phật (Buddha).
Đầu tiên là các vị Arhat.
Trong các văn tịch cổ, từ ‘Arhat’ được sử dụng không với ý
nghĩa thật chính xác. Đó có thể là một trong những đức hiệu của
Phật, hoặc tên gọi dành cho người đã đạt quả vị cuối cùng trong ‘bát
thánh nhân’. Danh hiệu này đôi khi được phân biệt khác với
Pratyekabuddha. Tuy nhiên, có thời kỳ
Arhat còn có nghĩa là vị Đệ tử (sāvaka) được ‘nghe’
giáo pháp (thanh văn) từ đức Như Lai hay Độc giác Phật. Về từ
nguyên, ‘Arhat’ có nghĩa là người ‘cao quý’, ‘đáng tôn kính
và cúng dường’, nhưng từ nguyên học Phật giáo
còn giải thích nó theo nghĩa người đã giết chết (han) các kẻ
thù (ari) tức các nhiễm ô, hay là người có ‘đủ năng lực’ cứu
độ chúng sinh.
Vậy thì chính xác, một vị Arhat
được cho là đã thành tựu những gì? Các văn tịch cho chúng ta hai
hướng mô tả, thứ nhất mang tính thi vị và tán dương,
thứ hai có tính kinh viện và nghiêm xác hơn. Công thức thông dụng
nhất là bắt đầu bằng sự ‘diệt tận hữu lậu’ (āsrava) của ngài,
và như vậy là sử dụng một thuật ngữ thông thường còn được Kỳ na giáo
(Jainism) dùng để chỉ các vị Arhat của họ. Dù ý nghĩa của nó được
quảng diễn như thế nào trong thời đại đức Phật, theo giáo điều Phật
giáo thuật ngữ ‘Arhat’ luôn gắn liền với Thánh đế thứ nhất. Bởi vì
Arhat là người đã hoàn toàn tận diệt mọi thứ ‘khổ’ được mô tả trong
Thánh đế đó. Trong nghĩa đó Arhat là nguời đã đạt đến cứu cánh của
mọi người con Phật, có thể được gọi một cách xứng đáng là người ‘đã
làm xong những việc cần làm’. Abhidharma còn phân tích chính xác hơn
hai loại ‘trí’ là chỉ dấu của giai vị Arhat, sẽ dẫn đến giác ngộ. Đó
là ‘lậu tận trí’ và ‘vô sanh trí’.
Loại đầu phát sinh ngay khi các dấu vết cuối cùng của hữu lậu, như
vô minh các thứ, hoàn toàn không còn nữa. Nó là bằng chứng rõ ràng
và xác đáng cho thấy đã đoạn tận hữu lậu. Nếu, sau đó, vị thánh
không thối thất và trở thành ‘bất động chuyển’ (akopya),
ngài tiến lên
loại ‘trí’ khiến hữu lậu nơi ngài không thể phát sinh trong tương
lai. Trí thứ nhất cho ngài biết rằng công phu tu tập đã hoàn tất,
loại thứ hai cho biết từ nay không còn gì phải làm.
Vị Arhat bấy giờ hoàn toàn làm chủ tâm tư của mình, và ‘mọi thiện
pháp đều hướng về ngài, như thần dân cung kính hướng về vị thái tử
sẽ trở thành đấng quân vương tối thượng’.
Các truyền thống về
Pratyekabuddha không phải lúc nào cũng rõ ràng. Đó là
một vị Phật độc giác, là người, không như Arhat, đã ‘tự giác
ngộ’ (svayambhū),
bằng nỗ lực tự thân chứ không qua sự chỉ giáo của người khác, nhưng
khác với chư Phật, ngài không tuyên thuyết chân lý giáo hoá chúng
sanh. Như từ ngữ cho thấy, đó là hợp thành của từ Praty-eka,
có nghĩa ‘đơn độc, riêng lẻ, cá nhân’. Cũng như từ tương đương
‘rhinoceros’ (khaḍgin) nói về sự sống đơn độc như của con
‘rhino’ (tê giác). Truyền thống tu tập cá nhân luôn có trong mọi
thời kỳ của lịch sử Phật giáo, và hai loại người ‘vô học’ này tiêu
biểu cho lý tưởng cá nhân (tự tu tự ngộ) đó. Vốn thường trải qua một
cuộc sống đơn độc, sau khi giác ngộ, vị Pratyekabuddha không muốn bị
nhiễu loạn
bởi đám đông để tránh xao lãng sự tập trung thiền định. Con người
bản chất vốn không khả ái, và sự tu định nói riêng có khuynh hướng
làm phát sinh, hay củng cố, tính chủ động không thích sự tụ hội của
đám đông,
như trường hợp Gulliver sau khi đến viếng Houyhnhnms.
Những bậc vô học này được thay thế bằng tên gọi khác là Phật độc
giác,
vì ‘các ngài mong cầu tự chứng cứu cánh Niết bàn qua sự giác ngộ
về lý nhân duyên (pratyaya)’.
Nói cách khác, sở ngộ của các ngài, tuy uyên thâm hơn của vị Arhat,
vẫn nằm trong khuôn khổ Tứ đế, chỉ khác là các ngài chuyên tâm quán
sát hữu vi duyên sanh - hệ quả tất yếu của Tập và Diệt Đế.
Việc tạo ra hình tượng kết hợp
này dường như cho thấy những bộ phận rộng lớn trong cộng đồng đã
quan niệm giáo pháp của đức Phật như một phương thức tự tu tập, dựa
trên nền tảng bốn Thánh đế, vốn chủ yếu hữu ích cho những người đã
trải nghiệm nó, chứ không mang nội dung vị tha nào đáng chú ý. Họ
vẫn quan niệm ‘giải thoát’ là thuộc về cá nhân, không phải là một
thành tựu mang tính xã hội hay quảng đại quần chúng, mà tự bản chất
nó không bao hàm sự liên quan tới người khác hay toàn khối cộng
đồng. Lôgic nội hàm của phương pháp này sẽ khiến họ khó giải thích
vậy tại sao đức Thế tôn thực tế đã tuyên thuyết giáo pháp chứ không
hành động như một vị Phật Độc giác. Không có lý do đáng thuyết phục
nào cho thấy tại sao bị phiền nhiễu khi giáo hoá người khác, và hầu
hết các văn tịch thuộc kinh tạng đều viện dẫn đến phép lạ, tức sự
thỉnh cầu của Phạm thiên và Đế thích.
Chính sự vị kỷ thái quá này đã khiến các nhà Đại thừa ca ngợi tán
thán hạnh lợi tha của hàng Bồ tát. Cần phải hiểu học thuyết này như
một phản ứng chống lại khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa mạnh mẽ trong
Giáo đoàn, một phản ứng mà, thường là quá đà, không phải không có
lúc vượt quá giới hạn. Đúng lúc quan điểm ấy thay đổi một cách toàn
diện đến mức, khi Tiểu thừa nhận thấy khó tin việc một người đã giác
ngộ lại thấy khó khăn khi thuyết giáo cái không thể thuyết giáo, một
số nhà Đại thừa đã cảm thấy không thể có người chứng đắc chân lý mà
không truyền đạt nó. Do đó họ nói, các vị Pratyekabuddha giáo hóa
thông qua tâm truyền mà các Đệ tử phải tin tưởng,
và có thể không cần dùng phương tiện thô thiển của ngôn tự. Như vậy
là cuối cùng bánh xe chánh pháp đã chuyển vận hoàn toàn.
Giác ngộ của đức Phật được phân
biệt với sự giác ngộ của hai bậc vô học trên bằng miêu tả là vô
thượng (anuttara) và toàn diện (sambodhi, chánh giác).
Vì số vị Arhat trong cộng đồng giảm thiểu, đương nhiên sự liễu đạt
chân lý rốt ráo của Phật trở thành điều cơ bản bảo đảm cho toàn bộ
sự nghiệp trí tuệ, và chắc chắn tầm vóc của đức Phật ngày càng vươn
cao qua thời gian. Ngày nay đã qua rồi cái thời người ta có thể hài
lòng cho rằng Phật là ‘bậc đã thấu đáo điều cần thấu đáo, đã thuyết
giảng điều cần thuyết giảng, đã xả bỏ điều cần xả bỏ’.
Abhidharma phân định sự khác biệt giữa Phật và hai bậc vô học kia
bằng hàng loạt đức tính, là đặc trưng riêng của ngài, hoặc là các
đức hiệu mà các Arhat hay Pratyekabuddha chưa xứng đáng. Các đặc
tính thường thấy là mười tám pháp bất cộng của Phật (āveṇika-buddha-dharma),
tức, theo Vaibhāshika, là mười lực,
bốn vô sở úy,
ba niệm trụ (cf. tr...) và đại bi. Về các đức hiệu, ngài được tôn
xưng là ‘Thế tôn’ (Bhagavan), bậc ‘hàng phục chúng ma’, ‘Pháp
vương', ‘Vô thượng sĩ’, ‘Như lai’, ‘Điều ngự trượng phu’, v.v... Sự
ưu việt của đức Phật còn thể hiện qua năm phong cách liên quan đến
(1) các pháp, (2) chúng sanh, (3) vũ trụ, cả với (4) sắc thân và (5)
các giai đoạn gia hạnh của ngài.
1. Trong mười tám pháp bất
cộng, trừ pháp cuối cùng, còn lại tất cả đều được coi như các trí,
hay thành quả của trí. Chứng ngộ thù thắng của Phật còn có thêm bốn
loại trí về các pháp.
(1) Nó được chứng đạt bằng nỗ lực tự thân, và chân lý ngài thấy biết
không phải do người khác chỉ dạy (vô sư trí); (2) nó cùng khắp (sarvatra,
châu biến) ở chỗ ngài thấy biết hết thảy mọi dấu hiệu đặc
trưng cho mỗi và mọi pháp (nhất thiết trí); (3) biết hết tất cả (sarvathā)
mọi hành tướng, sai biệt (prakāra) của hiện hữu
(nhất thiết chủng trí); (4) nó tự tại ở chỗ, chỉ cần ngài muốn biết,
là lập tức biết rõ vạn pháp (vô công dụng trí). Chúng ta cũng có thể
nói đức Phật là người có ‘nhất thiết trí’ (sarvavid) theo
nghĩa các vị Arhat không có. Định nghĩa chính xác hơn, nhất thiết
trí này biểu hiện (1) tuyên thuyết chân lý ngài chứng đắc và (2) tự
tại thuyết minh sự chứng đắc đó. Sự kiện thứ nhất xác định rằng
‘nhất thiết trí’ theo nghĩa của từ ngữ, tức là đức Phật biết rõ
không chỉ yếu tính của hết thảy mọi hiện hữu mà cả đến từng chi tiết
của nó. Sự kiện thứ hai gợi ý chẳng hạn như đức Phật biết trước
tuơng lai không phải do suy luận ra, hay do các điềm triệu hoặc chỉ
dấu khác nhau cho phép nhà tiên tri ước đoán nó, mà do ngài trực
tiếp nhìn thấy nó bằng con mắt riêng của ngài.
Nhưng nói chung mọi người đồng ý rằng Phật tri kiến là lãnh vực ‘bất
khả tư nghì’,
và không cố công giải thích xa hơn. Tuy vậy các nhà A-tỳ-đàm ý thức
sự khẳng định nhất thiết trí này hơi khó chấp nhận, và để tin được
nó cần phải có niềm tin lớn.
Vasubandhu giải thích
chỉ có đức Phật Thế tôn là đã diệt tận vô minh một cách toàn diện,
và hoàn toàn thoát khỏi những chướng ngại không nhìn thấy tự tính
của vạn vật. ‘Các vị Arhat và Pratyekabuddha đã tự giải thoát khỏi
sự mê muội bị ô nhiễm phiền não (nhiễm ô vô tri), nhưng vẫn còn sự
vô tri không bị ô nhiễm bởi các phiền não (bất nhiễm ô vô tri). Các
ngài chưa có những đức tính thù thắng của Như lai, chưa biết được
các đối tượng xa cách về không và thời gian, cũng chưa biết được
phẩm loại vô hạn của vạn hữu.’ Vị Arhat bằng lòng với nhận thức về
mọi sự vật liên quan đến cá nhân ngài, vị Pratyekabuddha hiểu biết
thêm về lý duyên khởi, nhưng toàn thể pháp giới vẫn còn nằm ngoài
tầm hiểu biết của họ.
2. ‘Đại bi’
khác với lòng thương cảm thông thường vì nó quảng đại hơn. Nó rung
cảm không những trước những đau khổ hiển nhiên mà cả những đau khổ
tiềm tàng, không chỉ trước các đau khổ trong cõi dục giới mà cả
trong sắc giới và vô sắc giới. Hơn nữa nó được cảm nhận bình đẳng
với hết thảy chúng sanh, dù chúng có đau khổ hay không; tâm ấy không
còn sân hận và si mê, và lớn hơn lòng thương cảm đơn thuần ở chỗ nó
thực sự lo cho chúng sanh thoát khỏi những nỗi sợ luân hồi. Đây là
lý do vì sao trong nghệ thuật Phật giáo thường có khắc họa chân dung
Phật trong tư thế ‘vô úy ấn’ (abhayamudrā). Phật có thể cứu
độ chúng sanh nhiều hơn vị Arhat có thể, và đem đến cho họ nhiều
phước lạc hơn. Ngài có thể giải thoát con người một cách trọn vẹn
khỏi những phiền não và đau khổ của luân hồi, có thể đưa họ vào
trong ba thừa hay tái sinh trong những hoàn cảnh thuận lợi.
3. Đối với vấn đề vũ trụ, đức
Phật được tin là có quyền năng tự tại (vaśitva) hay
prabhāva, thần lực.
Đạt đến địa vị tôn quý, tất cả các vị Thánh đều được xem là có các
loại thần lực mầu nhiệm.
Đức Phật có thể tùy ý tạo ra, biến đổi hay bảo toàn vạn vật ngoại
giới, rút ngắn hay kéo dài thọ mạng của ngài, đi xuyên qua các vật
cản (vô ngại), du hành tự tại trong không trung, thu nhỏ các vật
thể, v.v... Về phương diện này, chính vì bản chất của ngài mà ngài
có khả năng thực hiện vô số phép mầu.
Các sự kiện trọng đại trong đời sống của ngài đều kéo theo những
hiện tượng chấn động toàn vũ trụ.
Một vị Phật không chỉ là bản thân một cá nhân, xung quanh ngài còn
có ‘quốc độ Phật’ (Phật-sát), mà theo Buddhaghosa là bộ ba:
‘quốc độ giáng sinh bao gồm mười ngàn hệ thế giới sẽ chấn động khi
đức Như lai đản sanh’, thành chánh giác, và nhập Niết bàn. ‘Quốc độ
oai lực’ còn rộng lớn hơn. ‘Quốc độ cảnh giới’ của ngài thì vô biên
vô lượng. Về phạm vi này, nó được coi là “tùy vào ý muốn của ngài”
(AN i 228), vì Như lai liễu thông hết thảy mọi thứ ở mọi nơi nào
ngài muốn’.
4. Sắc thân của đức Phật có bốn
đặc trưng hy hữu.
(1) Nó được trang nghiêm bằng ba mươi hai diệu tướng và tám mươi
tướng phụ. (2) Nó có sức mạnh vô song, và theo một số quan niệm,
phải là vô hạn vì nếu không thì nó không thể dung chứa một tri kiến
vô hạn. Tương tự đặc tính này, ta thường nghe nói
đức Phật chứng ‘kim cang định’ trên ‘kim cang tòa’ hay ‘chánh giác
tòa (bồ đề tràng)’ ngay giữa cõi Jambudvīpa (Diêm phù đề) này, ‘vì
không nơi nào khác đủ kiên cố để chịu nổi sức mạnh của định này’.
(3) Khi được hỏa táng, nó kết tinh thành thể kim cang bất hoại, được
gọi là śarīra, hay ‘ngọc xá lợi’. (4) Nó phát ra hào quang
rực rỡ hơn một trăm ngàn mặt trời, vì ánh sáng vinh quang của đấng
Thế tôn xuyên suốt toàn thể pháp giới.
5. Giai đoạn gia hành Phật quả
của đức Phật mới thật là mênh mông. Ngay cả khi ngài đã được thọ ký
- bởi đức Phật Dīpaṅkara (Nhiên Đăng) - sẽ đạt giác ngộ vô thượng,
ngài còn phải trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp làm Bồ tát cho giai đoạn
chuẩn bị viên thành Phật quả.
Tất nhiên, hiểu đức Phật như
một ‘cá nhân’ theo nghĩa thông thường của nó là một sai lầm. Trong
kinh điển Phật giáo cổ, nhân cách của đức Phật không trọng yếu đến
mức tác phẩm kinh điển của H. Oldenberg chỉ đề cập đến trong bảy
trang trên 401 trang sách. Oldenberg thừa nhận rằng định nghĩa giáo
điều về đức Phật ‘có thể nói, được coi như một ý tưởng đến sau (Anhang)
so với các quan tâm khác thiết yếu hơn’ là điều có vẻ lạ lùng, nhưng
biện minh cho quan điểm của ông là ‘trong hết thảy tinh hoa của nó,
giáo pháp đạo Phật vẫn giữ nguyên giá trị, dù cho khái niệm về đức
Phật có khiếm khuyết’.
Khác với các nhà A-tỳ-đàm các văn tịch cổ cho thấy ít quan tâm đến
mức độ khác nhau giữa những người đã được giải thoát. Giải thoát là
tất cả vấn đề, và như vậy đức Phật cũng chỉ là một primus inter
pares (người đứng đầu giữa những người đồng hạng) Nhưng cả trong
A-tỳ-đàm nhân cách Phật vẫn là nền tảng theo đúng nghĩa của nó. Hơn
hẵn một cá nhân, ngài là (1) một nguyên lý siêu hình phi cá thể, (2)
Một uy lực siêu nhiên, và (3) một biệt loại.
1.
Đức Phật tại thế trên thực tế là sự kết hợp giữa nguyên lý
pháp siêu hình phi cá thể với một ‘thân tứ đại uế trược’, và hiển
nhiên là cái nào trong hai là quan trọng.
Đức Phật luôn luôn được gắn liền với Pháp, và ý nghĩa hiện hữu của
ngài chính là đường kênh chuyển tải Chân lý (đẳng lưu chánh pháp).
Vì lẽ các ‘cá nhân’, như ta đã biết, không thực hữu, ngay cả việc
‘quy y’ Phật cũng phải kể đến giáo pháp. Trên thực tế việc quy y đó
là quy y những giáo pháp sẽ giúp người quy y tu thành Phật đạo hoặc
sẽ dẫn dắt người đó đến với một người đuợc gọi là ‘đức Phật’. ‘Sắc
thân của ngài, được sinh ra từ cha mẹ ngài, là những pháp bất tịnh,
không đáng để quy về nương tựa; quy y là nương tựa vào chánh pháp
của bậc toàn giác, các pháp dẫn đến giác ngộ và tạo thành
Pháp-thân.’
Cũng có người cho rằng 18 pháp bất cộng của Phật mới là sự quy y cần
được tìm đến.
2.
Đức Phật, như ta đã biết, hiển nhiên ưu việt hơn một cá nhân
đơn độc đã lặng lẽ rời khỏi thế gian này. Những việc làm, hay công
hạnh của ngài, có ảnh hưởng vĩ đại trên thế gian và cho mọi sinh
linh sống trên đó.
3.
Khi đức Phật được gọi là ‘Như Lai’,
tính cách cá nhân của ngài coi như không quan trọng. Chư Như Lai là
những ‘điển hình’ lần lượt thị hiện trên thế gian này vào một thời
điểm đã định nào đó, từ quá khứ vô cùng đến tương lai vô tận. Thời
kỳ thị hiện của mỗi vị Như Lai đều được ấn định trước, đều trải qua
quá trình phát triển như nhau và đều theo cùng một Đạo lộ, cố định
một lần duy nhất. Chư vị Như Lai chỉ khác nhau ở các chi tiết thứ
yếu;
về bản chất, trong Phật-pháp của các ngài, tất cả đều không khác.
Để kết luận, chúng ta cần nhắc
lại
rằng quan niệm độc đáo về ba thân đã được gợi ý sẵn nơi kinh tạng.
Đó là (1) sắc thân có thể hư hoại, (2) ứng hay hoá thân cho phép đức
Phật thị hiện khắp các cõi trời v.v., và (3) Pháp thân cũng chính là
giáo pháp của ngài. Abhidharma của Hữu bộ đã hệ thống hóa các gợi ý
này, phân biệt ba thân như sau: (1) thân thể vật chất tức sắc thân (rūpakāya)
là kết quả của nghiệp quá khứ. Nó có thể hư hoại dù trên nhiều
phương diện nó ưu việt hơn thân thể phàm phu (cf. phần 4 nói trên).
(2) Đức Phật có thể bằng thần lực của ngài tạo ra các hóa thân (nirmāṇakāya)
để ngài thị hiện ở bất cứ nơi nào. (3) Cuối cùng là Pháp thân, bao
gồm ‘ngũ phần pháp’ để khiến dẫn một Bồ tát trở thành một vị Phật.
Dưới hình thức này học thuyết về Tam thân (trikāya) đã được
Mahāyāna tiếp nhận, ở đó nó được bổ sung chi tiết hơn, một phần từ
sự kết hợp của nó với chủ thuyết huyễn ảnh (Phật thân vô lậu) của
Mahāsanghikas, phần khác từ ảnh hưởng của lý tưởng Bồ tát đạo và các
quan niệm mới về bản thể học của Mahāyāna.
3. Lộ trình Thánh Đạo
1. Thanh tịnh đạo luận
của Buddhaghosa cho ta cái nhìn tổng quát xuyên suốt về các giai
đoạn khởi phát của trí tuệ. Nếu không ai có thể hiểu biết nhiều hơn
những gì mà mình đã kinh nghiệm, trình độ và chiều sâu kiến giải của
mỗi người tất phải dựa vào mức độ toàn thiện tâm linh của chính
mình. Việc vạch ra biểu đồ các mức độ này giúp ta có khả năng quyết
định cái gì có thể và không thể sở đắc vào những giai đoạn nhất
định.
A.
Trí tuệ có hai gốc (mūla, căn) là giới thanh tịnh và
tâm thanh tịnh. Hai căn này tương ứng với năm thiện căn phải có
trước để trí tuệ thành thục. ‘Tâm thanh tịnh’ gốc ở tám bậc định,
tương ứng với định căn. ‘Giới thanh tịnh’ bao gồm (1) ‘được chế ngự
bởi giới bổn Patimokkha’, tương ứng tín căn; (2) ‘mạng thanh tịnh’,
(3) ‘phòng hộ căn môn’, và (4) ‘không đắm trước các nhu yếu của cuộc
sống’,
tương ứng theo thứ tự với tấn, niệm và huệ căn.
B.
Nền tảng (bhūmi, địa) của tuệ là hiểu biết căn bản về
các uẩn, xứ, giới, căn, (tứ) đế, và duyên khởi (các ch. 14-17).
C.
Thể (sarīra) của tuệ được phân thành năm kiến giải (trí):
I. Trí tuệ do học được
(phần B). Nó liên quan đến (1) các tướng (vô thường, v.v.) mà vạn
pháp tự chúng có sẵn,
và (2) thức liễu thông về danh sắc cùng các quan hệ nhân duyên của
chúng.
(1) Ch. 18. Kiến thanh tịnh.
Danh và sắc được nhận thức theo thực tánh,
và cũng theo cách đó mà vượt qua khái niệm về một ‘chúng sanh’.
Ch. 19 (2) Đoạn nghi thanh tịnh (vitarana). Thấu hiểu
các duyên sở sanh thân tâm-vật lý,
và định luật nhân quả (dhammaṭṭhiti).
II. Trí tuệ có giá trị phổ
độ.
Lấy tổng tướng các pháp làm đối tượng.
(3) ch. 20. Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh. Ở đây hành giả
hiểu các nhóm không phải là Đạo, mà chính Niết bàn là Đạo. Các uẩn
được quán sát đầu tiên với 33, cho đến 200 trường hợp. Nếu chưa đủ
thuyết phục, còn có chín phương pháp tăng cường sự nhạy bén các căn.
Lần lượt các nhóm được quán bằng cách áp dụng ba tướng.
(4) Ch. 21. Đạo tri kiến thanh tịnh. Ở đây hành giả tiến dần
lên Thánh đạo. Bước đầu tiên là (a) quán về sinh và diệt.
III. Trí dẫn đến xả
(đoạn biến tri). Ở đây áp dụng ba tướng cho tất cả mọi đối tượng. Sự
áp dụng này có thể phân thành 18 tuệ giác,
hay cũng có thể thay thế bằng tám trí quán các đề mục sau: (b) trí
quán (các hành là) hoại diệt,
(c) bố uý trí (nhận thức bản chất hoại diệt của vạn pháp là điều
kinh khủng, đáng sợ),
(d) quá hoạn trí (nhận thức sự khổ não, nguy hiểm đó),
(e) ly dục trí,
(f) dục thoát trí,
(g) tư duy trí (trí quán sát, đánh giá lại các thực trạng), (A) Quy
gán ba tướng cho hết thảy pháp phức hợp (các hành),
(B) quán về tánh không,
(h) hành xả trí khi nhìn vạn vật hữu vi,
(i) thuận thứ trí.
IV. Trí chuyển tánh
(dòng dõi). Hành giả bấy giờ ‘hồi quy về Thánh đạo’.
Sau đó ông ‘ra khỏi dòng dõi, phạm vi hay trình độ của phàm phu để
gia nhập dòng dõi, phạm vi hay trình độ các vị thánh’. Là kết quả
của III (i), mọi dấu hiệu của một đối tượng hữu vi diễn ra như một
thứ cản ngại, và như là kết quả của IV, hành giả ‘lấy Niết bàn làm
sở y như là cái vốn vô tướng, vô sinh, vô hành, và tịch diệt’. ‘Đây
là sự hồi quy đầu tiên, tác ý (ābhoga) đầu tiên, chuyên niệm
đầu tiên (samannahāra) về Niết bàn như là sở y, và nó thực
hiện vai trò là duyên cho Thánh đạo theo sáu cách, tức vô gián
duyên, đẳng vô gián duyên, tập hành duyên, cận y duyên, vô hữu duyên
và ly khứ duyên.’
Hành giả bấy giờ thấy Niết bàn như một người có thể nhìn thấy ông
vua ngự trên lưng voi; dù ông ấy không thực sự ‘nhìn thấy’ y vì công
việc của y với vua chưa giải quyết xong. Cũng vậy, khi ta chưa làm
xong điều cần phải làm, nghĩa là xả ly mọi phiền não, ta không thể
nói về sự ‘liễu ngộ’ Niết bàn mà khởi điểm là Thánh đạo.
V. Đạo trí khi ấy bắt đầu khởi
sự tái sinh về tâm linh nhờ đó vị thánh, trên bình diện xuất thế, có
khả năng thể nhập Chân lý. Vì chuyển từ đạo lộ này sang đạo lộ kế
tiếp, các tâm tánh bất thiện dần dần bị tiêu trừ, và bốn ‘Thánh quả’
tuần tự xuất hiện. Nét đặc trưng của tinh thần Phật giáo là các giai
vị có thể được miêu tả bằng những thứ đã chứng đạt không nhiều bằng
những thứ đã xả bỏ, cái sau là duyên cho cái trước. Buddhaghosa phân
biệt bốn loại ‘xả’
(1) Do các tri kiến và trí của C. I – III làm chất giải độc cho
nhiều thiên kiến sai lầm và tai hại được xả bỏ. (2) Ở phần C. V Đạo
trí nhổ bật gốc các phiền trược, v.v., với kết quả là chúng được xả
bỏ theo nghĩa không bao giờ còn tái diễn, vì Thánh đạo đã đánh tan
chúng như sét đánh bật gốc một cái cây. (3) Bằng việc chứng đắc các
đạo, các phiền não được xả bỏ vì chúng đã hoàn toàn tịch diệt. (4)
Khi đạt đến Niết bàn, mọi thứ hữu vi được xả bỏ vì ta đã vĩnh viễn
thoát ly chúng.
Buddhaghosa bằng lòng với cái
nhìn tổng quan về các giai vị cao hơn, vốn hoàn toàn vượt ngoài khả
năng kinh nghiệm tâm linh của các độc giả của ông, và chính ở điểm
này mà ông khác với các nhà Hữu bộ và Đại thừa. Đối với tư tưởng
Phật giáo quả thật không có chỉ dẫn nào tốt hơn Visuddhimagga
về khía cạnh thực tiễn.
2. Abhidharmakośa, gần
như cùng thời, lại trình bày sự việc hơi khác với Visuddhimagga.
Nó phân ra năm giai vị tu chứng Thánh đạo, gồm: (1) giai đoạn tích
lũy dần các tư lương đầu tiên (sambhāra-mārga, tư lương
đạo/vị). Tiếp theo là (2) giai đoạn nỗ lực (prayoga-mārga,
gia hành đạo) được định nghĩa là quá trình dụng công gia hạnh trước
khi bước vào Thánh đạo xuất thế (= (3)), tương ứng với C. I – IV
theo bảng sắp xếp của Phật Âm. Tuy nhiên ở đây nó lại chia thành bốn
Trợ pháp (nirvedha-bhāgīya, thuận quyết trạch phần,
順
決
擇
分),
là hình thức tu quán cao hơn về các pháp, ở đó không còn xem xét các
tổng tướng và biệt tướng của chúng, mà quán 16 hành tướng của bốn
Thánh đế. Theo thứ tự đó là bốn thế pháp: 1) noãn, 2) đãnh, 3) nhẫn,
và 4) thế đệ nhất; đến phiên mỗi pháp này lại được chia ba giai
đoạn: a) yếu, b) trung bình, và c) mạnh. Đây là gần như tất cả những
gì chúng ta biết, và dường như không có bản liệt kê chi tiết nào của
Hữu bộ về chủ đề quan trọng này được lưu giữ.
Bước cuối cùng của ‘gia hành đạo’ là ‘vô gián định’ (ānantarya-samādhi)
cho biết đã hoàn toàn chứng đắc các pháp thế gian tối thượng.
Tiếp theo giai vị này là (3)
Kiến đạo vị (còn gọi Thông đạt vị), tri kiến xuất thế gian về các
Thánh đế,
ở đó tuệ đã thoát khỏi các lậu hoặc, đảo kiến,
và tham ái, chỉ hướng về tổng tướng của các Thánh đế qua 16 hành
tuớng của chúng, dần dần loại trừ các phiền não về tri thức vốn có
thể được xả bỏ bằng chánh tri kiến. Giai vị này được phân thành 15
‘sát-na tâm’: (1) được gọi là ‘chấp nhận sự thực về khổ’ (khổ pháp
nhẫn), hiện quán khổ của dục giới. Ở đây hành giả kiên định tin
tưởng ‘hết thảy các pháp trong dục giới đều vô thường, khổ, không,
vô ngã.’ Đoạn hết các nghi hoặc về điểm này,
từ bỏ các tham luyến thường theo sau việc chấp chặc quan niệm trái
ngược lại là đúng, hành giả bước vào sơ vị đầu tiên, trở thành một
ārya, và từ nay chắc chắn sẽ có ngày chứng đạt Niết bàn.
Kiến giải này được hoàn thiện bằng (2) sự tin tưởng vững chắc về
tính vô thường v.v... của vạn pháp ở dục giới, và giải thoát đạo (vimuktimārga)
đưa đến sự chấm dứt mọi tham luyến;
(3) hiện quán khổ của sắc giới và (4) hiện quán khổ của vô sắc giới.
Tương tự, từ (5-8) hiện quán ‘tập’, (9-12) hiện quán ‘diệt’, và
(13-15) hiện quán ‘Đạo’ cho đến cõi sắc. Các tham ái gắn liền với
hữu thân kiến bấy giờ đã bị diệt trừ, nhưng vẫn còn những thứ khác,
như lòng yêu, ghét, ham muốn cảm thọ lạc v.v., đeo bám theo hành
giả.
Sau đó chúng ta tiến đến giai
đoạn (4) ‘Tu Đạo vị’, mà bước đầu tiên là sát-na tâm thứ 16 để quán
‘Đạo’ thuộc cõi vô sắc. Giai vị này tương ứng Quả vị đầu tiên.
Từ đây chắc chắn sẽ tiến đến giải thoát, và sau nhiều nhất là bảy
kiếp, sẽ chứng đạt Niết bàn. Tiến xa hơn trên Đạo lộ này hành giả
vươn đến quả vị Nhất lai (sakṛḍāgāmin, dịch âm Tư-đà-hàm,
斯
陀
含)
tức chỉ còn một lần tái sinh nơi dục giới, rồi quả vị Bất hoàn (anāgāmin,
dịch âm A-na-hàm,
阿
那
含)
là người không còn trở lại cõi dục. Đạo lộ này chi tiết hơn còn được
phân
thành 80 ‘thời/ phẩm tu tập’ dần dần loại trừ các nhiễm ô còn sót
lại. Chín phẩm đầu dành cho dục giới, 36 phẩm kế tiếp dành cho các
tầng trời tương ứng bốn thiền, và 35 phẩm tương ứng bốn chứng đắc vô
sắc giới. Cuối cùng là (5) ‘Cứu cánh vị’ hay còn gọi là ‘Vô học vị’
(aśaikṣa-mārga), nơi các nhiễm ô mờ nhạt nhất liên quan đến
đỉnh hiện hữu (bhavāgra, hữu đỉnh) bị loại trừ. Sự chứng đắc
quả vị này được đánh dấu bằng kim cang dụ (vajropama) định,
biểu hiện của tuệ giác bừng sáng là nền tảng cho hành giả chuyển
thành bậc ‘vô học’. Giờ đây ông đã giải thoát khỏi mọi phiền não (kleśa)
và lậu hoặc (āsrava) có thể có. Giai vị này còn được gọi là
viśeṣa-mārga (tối thắng đạo vị),
và vị thánh bấy giờ là một Arhat, có được hai trí đặc trưng của
Arhat vị. Lúc này mục tiêu của các ngài là ‘hữu đỉnh’, bình diện vi
tế nhất của thực tại mà các vị Arhat còn ràng buộc. Khi một người
chết vì vết thương bị nhiễm độc, cái chất độc ban đầu lan toả khắp
thân thể đến lúc chết tập trung phát tác ở vết thương. Cũng vậy,
trước khi đoạn tận tất cả, tuệ giác của hành giả tập trung về mục
tiêu cuối cùng mà ông cũng phải từ bỏ, nghĩa là các skandhas của
bhavāgra, và ông quán cái khổ bức bách ông đó, cũng như cội
nguồn của nó.
Hai việc có ý nghĩa về sự sắp
xếp đã trở thành điểm khởi đầu tư tưởng Đại thừa về chủ đề này: (1)
các phạm trù truyền thống được sắp xếp vào một lộ trình rõ ràng bằng
các phép hoán vị toán học mà không có bất cứ liên hệ mật thiết nào
với kinh nghiệm thực tế. (2) Tập trung sự quan tâm vào các giai vị
sau hơn các giai vị đầu. Trong khi thực tế không có nhiều tài liệu
về các ‘thuận quyết trạch phần’, người ta dành nhiều chỗ để phân
biệt tỉ mĩ sự khác nhau của nhiều hạng Arhat và Anāgāmin. Giải pháp
của Abhidharmakośa về các giai vị Thánh đạo không phải là một
hướng dẫn để thực hiện, mà để cung kính chiêm nghiệm các thành tựu
của thánh nhân.q
dịch Việt: Hạnh Viên