GIỚI LUẬT
Viên Âm - Số 91 trang 7 năm 1950
I. YẾU ĐIỂM GIỚI LUẬT
Bài trước đã nói đại cương sự quan hệ của giới luật, ở
đây nói rõ thêm và phân biệt ranh giới giữa đại thừa luật và tiểu thừa luật.
Giới luật là một trong ba tạng giáo điển của Phật đà. Hai
tạng Kinh và Luận có xen sự nghị luận của các Bồ tát và các đệ tử Phật v.v... Về
luật thì nhất định chỉ có đức Phật mới chế định mà thôi. Đức Phật căn cứ vào
nhất thế chủng trí, như sự thật mà thuyết minh giới luật cốt xứng hợp hành vi
của hàng đệ tử với thường trú chơn tâm cứu cánh chơn thật của muôn loài vạn vật.
Muốn thấy sự thật của muôn loài vạn vật như Phật, phải nghiêm trì giới luật;
muốn đạt được chơn hạnh phúc hoàn toàn của nhơn sinh, tức là cảnh giới Phật Đà,
cũng phải nghiêm trì giới luật. Đức Phật dạy: "Thọ Phật giới tức nhập chư Phật
vị", "Giới luật là đại sư của các ngươi, cũng như ta còn tại thế", "Giới luật
còn là đạo ta còn". Người không nghiêm trì giới luật là người phản bội đức Phật,
đi ngược cảnh giới giải thoát là cảnh giới thường trú chơn tâm, không thể thấy
sự thật và hưởng hạnh phúc chơn chính. Người thọ trì giới luật, không những
không phạm đến các điều ngăn cấm của Phật đã chế ra, mà hành vi hàng ngày càng
xứng hợp với oai nghi khuôn mẫu. Oai nghi là những hành vi như đi đứng nằm ngồi
v.v.... đúng theo một khuôn mẫu, quy tắc đã định. Đại thừa hay tiểu thừa luật
đều y vào bốn yếu điểm sau:
1. TÁC: Nghĩa là tạo tác. Những người chưa thọ trì giới
pháp, nay y theo pháp tắc oai nghi, làm lễ thọ giới. Nếu xét lại từ trước đến
giờ, vì lầm lạc đã tạo ra nhiều điều phi pháp, cũng y theo quy tắc luật chế mà
sám hối; về sau nếu còn vô tình phạm đến các giới điều đã cấm, thì cũng y theo
phương pháp mà sám hối lại.
2. CHỈ: Nghĩa là ngăn dứt. Đối với những hành vi bất
thiện như ngũ nghịch, thập ác ... quyết ngăn dứt mà không làm. Một nghĩa nữa nếu
giữ gìn giới luật tinh tấn thì vô minh vọng tưởng sẽ ngăn dứt mà không phát sanh
lại được nữa.
3. TRÌ: Có hai nghĩa: a) Trì xả, nghĩa là đối với những
điều ác, quyết bỏ hẳn, không bao giờ làm lại, dù có hại đến tánh mạng. b) Trì
thủ, nghĩa là đối với việc thiện quyết giữ gìn làm theo không để bỏ qua, dù là
một việc thiện rất nhỏ.
4. PHẠM: Nghĩa là những hành vi không hợp pháp, trái với
điều đã ngăn cấm; điều này mới là quan hệ. Người cầm cân giới luật cần phải sáng
suốt, thông hiểu tất cả những tâm lý hành vi của hành giả. Căn cứ vào giới luật
Đại thừa hay Tiểu thừa mà ấn định có phạm luật hay không. Lại còn phải căn cứ
vào tâm niệm (nhất là tâm niệm) vào thời gian và nghiệp cảnh ( ) là thế nào mới
có thể định đoạt là phạm hay không phạm. Ví dụ về giới sát sanh: Giết một con
vật, đối với Thanh văn tiểu thừa là phạm nhẹ, đối với Đại thừa bồ tát thì phạm
giới nặng, vì làm mất căn bản Từ bi tâm. Còn phải căn cứ vào tâm niệm cố ý lầm
lạc, khi khởi tâm giết hại mạnh hay yếu, trong thời gian khởi tâm giết hại, đến
khi giết và sau khi giết, trong khoảng thời gian ấy, trực tiếp hay gián tiếp,
hối hận hay không hối hận, ác niệm tăng hay giảm, và nghiệp cảnh giết hại có
thích hợp với lòng ưa muốn không (Như móng tâm muốn giết con bò mà khi giết lại
giết lầm con trâu v.v..). . Từ khi móng tâm, trải qua thời gian đến nghiệp cảnh
kết quả, một tâm niệm không thay đổi là tội nặng nhất. Nếu trong đó, móng tâm
thì hăng hái hoặc vì một thiện niệm đến khi làm và sau khi làm thì hối hận hoặc
gián tiếp, hoặc làm việc không kết quả như ý muốn, thi phạm tội nhẹ. Tùy theo
những cảnh huống ấy mà định đoạt phạm hay không phạm, tội lỗi nhẹ hay nặng. Tội
lỗi nặng nhẹ có chia làm ba loại thượng, trung và hạ. Về Đại thừa thì chú trọng
nhất về tâm niệm. Bốn điểm yếu trên này làm khuôn khổ cho tất cả giới luật, dù
Đại thừa hay Tiểu thừa cũng vậy.
II. NĂM THỪA LUẬT
Giáo pháp của Phật dạy có chia ra năm thừa sai biệt khác
nhau, giới luật cũng y theo đó mà có năm thừa.
Năm thừa luật là Nhơn thừa luật, Thiên thừa luật, Thanh
văn thừa luật, Duyên giác thừa luật và Bồ tát thừa luật. Nhơn thừa luật là năm
giới của Ưu bà tắc, ưu bà di. Thiên thừa luật là mười thiện giới. Hai hạng trên
này gồm cả tại gia và xuất gia (Bát quan trai giới cũng nhiếp ở trong này).
Thanh văn thừa luật và Duyên giác thừa luật chỉ đặc biệt riêng cho hàng xuất
gia, gồm có bốn chúng Sa di (con trai), Sa di ni (con gái), có mười giới; Tỷ
kheo(đàn ông) có hai 250 giới, Tỷ kheo ni (đàn bà) có 350 giới; có luật tăng đến
500 giới. Duyên giác thừa luật gồm ở trong Thanh văn chứ không có luật riêng. Bồ
tát thừa luật gồm cả tại gia và xuất gia, phổ thông đều theo giới kinh Phạm
võng, có tất cả 58 giới, chia ra 10 giới nặng và 48 giới khinh.
Năm thừa luật trên đây, tùy theo căn cơ trình độ, hoàn
cảnh mà lãnh thọ, trong đó chia ra có đại thừa và tiểu thừa sai khác nhau. Như
bốn thừa trước thuộc về tiểu thừa luật, một thừa sau tức bồ tát thừa là thuộc về
đại thừa luật.
III. NHẤT THỪA LUẬT
Nhất thừa luật, không phải ngoài năm thừa luật trước mà
có, tức là chỉ cho Đại thừa bồ tát. Đây cũng căn cứ vào giới kinh Phạm võng, 10
điều trọng và 48 điều khinh làm căn bản. Như người tùy theo hoàn cảnh, muốn làm
khuôn mẫu đạo đức về nhơn đạo, chỉ thọ trì năm giới tại gia, nhưng thâm tâm muốn
phát bồ đề tâm, hồi hướng về quả vô thượng bồ đề, nên dù ở hoàn cảnh triền phược
gia đình, có thể thọ trì thêm giới bồ tát luật gọi là Ưu bà tắc bồ tát hay Ưu bà
di bồ tát. Còn hàng xuất gia, chí khí trượng phu, trang nghiêm nhơn tướng làm
khuôn mẫu cho muôn loài, cũng thọ giới bồ tát là hàng sa di bồ tát, sa di ni bồ
tát, tỷ kheo bồ tát, tỷ kheo ni bồ tát v.v... Cho nên, năm thừa luật cũng không
ngoài nhất thừa luật mà có, mà cuối cùng năm thừa luật đều quy nạp vào nhất thừa
luật cả. Nhất thừa luật mới thật là mục tiêu cứu cánh về giới luật. Và cũng
chính bản ý của Phật hiện thân ở thế gian này. Muốn chỉ định hành vi của Nhất
thừa bồ tát luật (tức Đại thừa luật) cần phải căn cứ vào ba phương diện sau này:
a) Phương diện tiêu cực nghĩa là nghiêm trì tất cả giới
luật oai nghi một cách rốt ráo thanh tịnh, tuyệt hẳn bao nhiêu lỗi lầm nhỏ nhiệm
không có thể phạm được.
b) Phương diện tích cực nghĩa là thâu nhiếp tất cả những
điều thiện mỹ thế gian, xuất thế gian, hữu lậu vô lậu, để áp dụng vào hành vi
đạo đức của mình. Hai phương diện trên này thiên trọng về tự lợi.
c) Phương diện cứu cánh lợi tha. Đến phương diện thứ ba
này mới thật hoàn toàn cứu cánh của người thọ trì giới pháp đại thừa. Nghĩa là
một hành vi gì, không cần kể đến có lợi hay có hại cho mình, miễn hành vi ấy có
lợi cho quần chúng, một cách thiết thực về hiện tại cũng như về tương lai, thì
chơn chính đại thừa Phật tử triệt để thi hành ngay, không do dự lùi bước. Chỉ có
người phát đại bồ đề tâm, mới thọ trì nhất thừa luật. Người ấy mới xứng với hai
chữ Phật tử.
LỜI PHẬT
Thọ giới Phật dạy là được dự vào hàng chư Phật.
Giới luật còn là đạo ta còn.
Giới luật là vị đạo sư của các ngươi,
cũng như ta còn tại thế, không có sai khác.
|