LƯỢC SỬ
HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ THỦ
Hòa thượng húy Văn Kính, pháp danh Tâm
Như, tự Đạo Giám, hiệu Thích Trí Thủ. Hòa thượng sanh giờ Hợi ngày 19.9 năm Kỷ
Dậu tức ngày 1 tháng 11 năm 1909. Xuất thân từ một dòng tộc nối đời sùng mộ Phật
pháp. Hòa thượng thuộc thế hệ thứ tám của họ Nguyễn, họ khai canh và khai khẩn
làng Trung Kiên, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Dòng tộc này từ thế hệ thứ
ba có thiền sư Đạo Minh Phổ Tịnh trụ trì kế tổ Tổ đình Báo Quốc - Huế, kiến lập
Sắc tứ Linh Quang tự tại thôn nhà, làng Trung Kiên tỉnh Quảng Trị vào năm Gia
Long nguyên niên (1802). Đời thứ tư có Hòa thượng Nhất Định Tánh Thiên khai sơn
Tổ đình Từ Hiếu. Thế hệ thứ sáu Hòa thượng pháp danh Trừng Nhã tự Chí Thanh khai
sơn chùa Giác Lâm. Thế hệ thứ bảy Hòa thượng Ngộ Tánh tự Hưng Long hiệu Phước
Huệ khai sơn chùa Hải Đức. Đồng hàng thứ tám có Hòa thượng pháp danh Tâm Lượng
hiệu Diệu Hoằng trùng hưng Diệu Đế quốc tự.
Thân phụ húy Văn Minh pháp danh Trừng
Khiết tự Diệu Quang hiệu Hưng Nghĩa. Thừa tiếp gia phong, theo hạnh tu bán thế
tục gia, lập am thất Phổ Tế tại vùng đồi phía Nam kinh thành Huế, quy ngưỡng
Phật pháp. Thân mẫu tục danh Lê Thị Nậy, tự Chiểu người làng Cu Hoan, huyện Hải
Lăng, tỉnh Quảng Trị. Hoà thượng là con trai trưởng, gia đình có hai em một trai
Nguyễn Văn Khâm và một gái Nguyễn Thị Vân.
Từ tấm bé, Hòa thượng đã theo đòi
nghiên bút với Hán tự, chữ viết văn học thời này. Lên chín là khá làu thông việc
đọc và viết các bài kinh nhật tụng. Ảnh hưởng đạo phong của các bậc Tôn túc thân
tộc, vốn ươm sẵn cốt tủy bồ đề và túc duyên với Phật pháp, mười bốn tuổi theo
Bác ruột học kinh ở chùa Hải Đức - Huế. Dòng tộc vốn kính ngưỡng cao danh và đạo
vị của Thiền sư Viên Thành nên năm mười bảy tuổi Hòa thượng được cho đầu sư thọ
học với Ngài tại chùa Tra Am Huế. Hòa thượng được Bổn sư Viên Thành nhận làm đệ
tử thứ tư, ban pháp danh Tâm Như, pháp tự Đạo Giám và giáo huấn nghiêm ngặt. Ba
đại sư huynh ngộ pháp nổi danh của Hoà thượng là Trí Uyên, Trí Hiển và Trí Giải.
Đủ hai mươi tuổi, Bổn sư cho vào giới
đàn chùa Từ Vân ở Đà Nẵng thọ cụ túc giới, Hòa thượng trúng tuyển Thủ Sa di
trong số 300 giới tử tại giới đàn này. Do đó, Bổn sư Viên Thành đã cho pháp hiệu
là Thích Trí Thủ, với ý khen tặng chữ Thủ là đứng đầu.
Sau hai năm cư tang Bổn sư tại chùa
Tra Am, Hòa thượng cùng các pháp lữ vào chùa Thập Tháp, Bình Định, tham học với
Hòa thượng Phước Huệ, năm 23 tuổi.
Mãn học, Hòa thượng ngồi ghế giáo thọ,
dạy trường Phật học Phổ Thiên ở Đà nẵng. Vì chưa thỏa lòng cầu pháp, Hòa thượng
trở ra Huế, cùng các vị đồng học ở Thập Tháp ngày trước, tổ chức trường Phật học
tại chùa Tây Thiên, cung thỉnh Tăng cang Giác Nhiên chùa Thiền Tôn làm giám đốc,
Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp làm đốc giáo dạy nội điển, đồng thời mời các
cư sĩ như bác sĩ Lê Đình Thám dạy luận học, các cụ Nguyễn Khoa Toàn, Cao Xuân
Huy v.v... dạy các môn về văn hóa theo trình độ đại học. Ở trường này, Hòa
thượng đã chính thức học chương trình đại học Phật giáo cũng như văn hóa. Trong
thời gian này, Hòa thượng đồng thời làm giảng sư cho hội Phật học Huế và dạy lớp
Trung đẳng Phật học cũng mở tại chùa Tây Thiên. Lúc này, Hòa thượng được hai
mươi bảy tuổi. Khi hội Phật học mở trường tiểu học Phật giáo tại chùa Báo Quốc,
Hòa thượng đã kiêm dạy chúng tăng sinh ở đây.
Sau khi tốt nghiệp trường Phật học Tây
Thiên, năm 29 tuổi (1938), Hòa thượng về trụ trì chùa tổ Ba La Mật, nhưng vẫn
tiếp tục công việc giảng dạy cho hội và các trường Phật học. Năm 1939, Ni trường
thành lập tại chùa Từ Đàm, Sơn môn và hội Phật học giao Hòa thượng đặc trách
việc đào tạo và điều hành Ni trường này. Đây là cơ sở Ni bộ đầu tiên được hình
thành. Năm 1940, Hòa thượng trùng tu chùa tổ Ba La Mật. Năm 1941 Hòa thượng mở
trường Sơn môn Phật học tại chùa Linh Quang Huế, chủ trương xây dựng kinh tế tự
túc cho học chúng làm phương tiện tu trì với giai đoạn kinh tế khủng hoảng thời
bấy giờ. Hòa thượng cũng chủ trương cho học tăng học văn hóa. Chính Hòa thượng
đích thân dẫn tăng sinh đi thi tiểu học. Việc tăng sinh học văn hóa và thi lấy
bằng cấp ngoài đời đã gây chấn động không ít trong số người chủ trương đào tạo
tăng sinh theo nề nếp cũ.
Cách mạng tháng Tám dấy khởi, với
cương vị Trị sự Sơn môn Thừa Thiên, Hòa thượng đã cùng nhiều vị lập hội Phật
giáo cứu quốc Trung bộ. Chủ trương tờ nguyệt san Giải Thoát làm cơ quan tuyên
truyền. Hòa thượng đắc cử Đại biểu Hội đồng nhân dân Thừa Thiên và được chính
quyền Cách mạng mời đến Trung bộ phủ giao quyền sắp đặt lại chùa chiền, hủy bỏ
chế độ chùa vua trước đó.
Năm 1948, Hòa thượng mở giới đàn tại
chùa Báo Quốc, thân làm chủ đàn. Tại giới đàn này, Hòa thượng đã phục hồi ý
nghĩa của Thất chứng mà các trường giới xưa nay ít coi trọng. Trong ý nghĩa đó,
Hòa thượng đã cung thỉnh các vị tôn túc giới đức cao dày làm tôn chứng để chứng
minh cho sự truyền giới. Hòa thượng cũng phân chia riêng Tăng Ni hai bộ, Tăng độ
cho tăng, Ni độ cho ni.
Năm 1951, với chức vụ Hội trưởng hội
Việt Nam Phật học Trung phần, nằm trong hệ thống Tổng hội Phật giáo Việt Nam có
sáu tập đoàn Phật giáo Bắc, Trung, Nam , đứng đầu là Đại lão Hòa thượng Thích
Tịnh Khiết làm Hội chủ, Hòa thượng đặt viên đá đầu tiên xây dựng trường Tiểu học
Tư thục Bồ Đề tại thành nội Huế. Đây là điểm mở đầu mạng lưới giáo dục Phật
giáo, đóng góp vào sự nghiệp hoạt động xã hội nhân sinh, xây dựng đất nước; theo
tinh thần nhập thế vốn có ở đạo Phật tự ngàn xưa. Mạng lưới giáo dục này , từ đó
liên tục phát triển với nhiều tỉnh thành khắp nước, ở cả ba cấp học. Đến năm
1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, mạng lưới đã giải thể để hòa chung trong
việc thống nhất quản lý nhà nước của Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Năm 1952, Hòa thượng tạm nghỉ việc
Hội, chuyên tâm giáo dục học tăng tại Phật học đường Báo Quốc. Cuối năm 1956,
Phật học viện Trung phần thành lập tại Nha Trang, Hòa thượng thân làm Giám viện.
Năm 1957, thấy đa số tăng ni của Phật học viện đã đến tuổi thọ giới, Hòa thượng
cho mở giới đàn và thân làm đàn chủ.
Để ổn định kinh tế tự túc ở Phật học
viện, Hòa thượng cho một số tăng theo học cách thức chế biến và mở hãng sản xuất
nước tương, hương đèn, giấm ăn, xà phòng, sử dụng sức lao động của nội chúng và
phật tử chưa có việc làm gần chùa. Hầu hết học tăng Phật học viện đều được Hòa
thượng cho học cả hai chương trình nội điển và thế tục. Nhờ hướng đào tạo
đó mà nơi đây đã là nguồn cung cấp liên tiếp những Chánh đại diện giáo hội các
tinh, quận, hoặc giảng sư, trụ trì, hiệu trưởng, giám học các trường Bồ đề, quản
lý nhà in, nhà phát hành kinh sách, khắp miền Trung. Về sau, một số đã trở thành
giảng sư, giáo sư đại học trong ngành văn hóa giáo dục phục vụ đạo và đời.
Năm 1960, Hòa thượng tạo mãi miếng
vườn ở Gò Vấp khai kiến tu viện Quảng Hương Già Lam. Năm 1962, Hòa thượng dẫn
đầu phái đoàn Phật giáo Việt Nam tại miền Nam tham dự Đại lễ thế giới kỷ niệm
năm 2500 đức Phật nhập Niết bàn, tại Lào.
Phật đản năm 1963 khởi đầu thời pháp
nạn, Hòa thượng về Huế cùng các vị lãnh đạo Phật giáo hướng dẫn phong trào tranh
đấu bảo vệ đạo pháp và dân tộc cho đến khi chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam
giữ. Ngày 1.11.1963, Bạo quyền Sài Gòn sụp đổ. Qua cơn pháp nạn, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam thống nhất ra đời, thành lập với 11 đoàn thể các hệ phái Phật giáo
toàn miền Nam, Hòa thượng được bổ sung vào Ban dự thảo hiến chương Giáo hội.
Trong nhiệm kỳ đầu, Hòa thượng giữ phần Tổng vụ Hoằng pháp. Công việc hoằng pháp
và giáo dục tăng ni là mối quan tâm hàng đầu của Hòa thượng. Ở nhiệm vụ và vai
trò này, Hòa thượng đã mở ba đại hội Hoằng pháp: một tại Phật học viện Nha
Trang, một tại chùa Xá Lợi, Sài gòn và một tại chùa Ấn Quang, (Chợ Lớn). Hoạt
động và thành tích Hoằng pháp đều tổng kết ghi lại trong ba tập Kỷ yếu Đại hội.
Hòa thượng còn thành lập Giảng sư đoàn và cắt cử mỗi vị phụ trách một tỉnh để
diễn giảng Phật pháp cho tín đồ. Sau, Hòa thượng còn thành lập Phật học viện Phổ
Đà ở Đà Nẵng.
Năm 1964, Hòa thượng thân làm Viện
trưởng viện Cao đẳng Phật giáo, thành lập tại chùa Pháp Hội Sài Gòn; đây là tiền
thân của viện Đại học Vạn Hạnh. Hòa thượng còn chủ trương các tập san Tin Phật,
Bát nhã, để gióng tiếng pháp cho đời. Năm 1965, sau khi ổn định mọi Phật sự, Hòa
thượng hành hương chiêm bái các danh lam Phật tích ở Nhật Bản, Nam Triều Tiên,
Hồng Kông, Đài Loan, giao thiệp với nhiều danh tăng các nước.
Sau thời làm Tổng vụ trưởng tổng vụ
Hoằng pháp, Hòa thượng lại được giáo hội trao giữ nhiệm vụ Tổng vụ trưởng
Tổng vụ Tài chánh. Năm 1968, Hòa thượng được giáo hội Phật giáo Việt Nam thống
nhất chính thức cử hành lễ tấn phong Hòa thượng. Cùng năm này, Hòa thượng khai
giới đàn tại Phật học viện Nha Trang. Năm 1969, đại trùng tu Tổ đình Báo Quốc.
Từ Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam
thống nhất kỳ 5 và 6, Hòa thượng giữ chức vụ Viện trưởng viện Hóa đạo, đến năm
1975 kiêm phụ tá đức Tăng Thống, cho đến khi đất nước và đạo pháp
chuyển qua giai đoạn lịch sử mới. Năm 1976, Hòa thượng lại tổ chức Đại giới đàn
Quảng Đức tại Tổ đình Ấn Quang, Chợ Lớn.
Trước chiều hướng mới và cũng thể theo
ý hướng thống nhất mà xưa nay Phật giáo Việt Nam vẫn thường ấp ủ, sau khi miền
Nam hoàn toàn giải phóng, trong cương vị Viện trưởng Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật
giáo Việt Nam thống nhất, Hòa thượng đã liên hệ chư tôn túc lãnh đạo các hệ phái
và tổ chức Phật giáo khác trong cả nước, bàn bạc việc thống nhất Phật giáo Việt
Nam. Chính đây là nguyện vọng chung của toàn thể Tăng Ni và Phật tử. Nguyện vọng
này đã thể hiện cụ thể tại Đại hội giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất kỳ 7
họp tại chùa Ấn Quang, Chợ Lớn, ngày 23.1.1977 gồm 160 đại biểu của 54 đơn vị
trong giáo hội mà Hòa thượng nhân danh Viện trưởng tân nhiệm đã ký thông bạch 7
điểm trong đó có điểm thứ sáu nguyên văn như sau: "Đại hội cẩn ủy Giáo hội Trung
ương tiếp tục vận động thống nhất Phật giáo cả nước trong tinh thần Đạo pháp và
truyền thống dân tộc."
Sau khi Ban vận động thống nhất Phật
giáo thành hình, Hòa thượng được bầu làm Trưởng ban Ban vận động và khi hội nghị
đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam tổ chức tại thủ đô Hà Nội ngày 7.11.1981,
Hòa thượng đắc cử Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt
Nam nhiệm kỳ đầu tiên.
Những năm cuối của báo thân, tuy tuổi
già sức yếu, Hòa thượng vẫn không xao lãng việc đạo việc đời. Năm 1979 và 1982
dẫn đầu đoàn đại biểu Phật giáo Việt Nam dự đại hội thứ 5 và thứ 6 của tổ chức
Phật giáo châu Á vì hòa bình tại Mông Cổ. Năm 1980 làm trưởng đoàn đại biểu Tôn
giáo Việt Nam dự hội nghị các nhà hoạt động Tôn giáo thế giới vì hòa bình và
giải trừ quân bị, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Nhật Bản. Năm 1981 làm
trưởng đoàn đại biểu Phật giáo Việt Nam dự hội nghị các nhà hoạt động tôn giáo
thế giới vì hòa bình và sự sống, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Liên
Xô, cũng năm này kiến tạo thêm chánh điện Tu viện Quảng Hương Già Lam. Năm 1983
dự hội nghị các vị đứng đầu Phật giáo năm nước châu Á, tổ chức tại Cộng hòa dân
chủ nhân dân Lào.
Dù bận rộn Phật sự suốt con đường hành
đạo, Hòa thượng vẫn dành thì giờ phiên dịch kinh, biên soạn sách để hoằng dương
giáo hóa. Các tác phẩm chính gồm Kinh Phổ Môn, kinh Phổ Hiền, Mẹ hiền Quán âm,
kinh Vô thường, kinh A di đà, kinh Thập Thiện nghiệp đạo, kinh Đại phương đẳng
Như lai tạng, kinh Bất tăng bất giảm, Pháp môn tịnh độ, Tâm kinh Bát nhã Ba la
mật đa, Luật Tỳ kheo, Luật Bồ tát, Luật Tứ phần, Luận Khuyến phát bồ đề tâm,
Nghi thức truyền giới Bồ tát tại gia và Thập thiện, Nghi thức Phật đản, Nghi
thức lễ sám buổi khuya và các tác phẩm khác đã in hoặc chưa in.
Thâm hiểu và cảm thông nghiệp lực nhân
sinh, lân mẫn chúng tăng ni không giữ trọn nguyện ước thanh quy giới luật phải
hoàn tục sống đời thế gia, Hòa thượng lập chúng Dược Vương để quy tụ và sinh
hoạt với số đông Phật tử vốn đã có thời gian ươm mầm hộ trì chánh pháp này.
Mãn báo thân 76 tuổi đời, 56 tuổi đạo.
Vào lúc 21 giờ 30 ngày 2 tháng 4 năm 1984 (tức ngày 2 tháng 3 năm Giáp Tý) Hòa
thượng thị tịch tại Quảng Hương Già Lam, quàn tháp tại đây chờ di quan phụng Tổ
tại tổ đình Báo Quốc theo nguyện ước lúc sinh tiền.
|